Rung nhĩ – Một trong những rối loạn nhịp tim thường gặp nhất

Rung nhĩ là gì ?

Là rối loạn nhịp tim thường gặp nhất; tại Mỹ theo thống kê có hơn 3 triệu người mắc bệnh này. Bình thường, hệ thống dẫn truyền điện học của tim phát ra các xung điện đến từng tế bào cơ tim; qua đó khiến quả tim co bóp một cách nhịp nhàng. Rung nhĩ xuất hiện do sự rối loạn hình thành các xung động điện học của tim.

Tác hại của rung nhĩ

Xuất hiện rung nhĩ khi tâm nhĩ rung lên với tần số trên 350 chu kì/ phút thay vì co bóp một cách nhịp nhàng. Điều này làm hạn chế lưu chuyển của dòng máu; khiến cho máu bị quẩn lại trong nhĩ qua đó hình thành các cục máu đông và nếu cục máu đông rời khỏi nhĩ trái gây tắc mạch não có thể gây ra đột quỵ.

Người bệnh van tim nếu không điều trị kịp thời dễ gặp biến chứng rung nhĩ- đột quỵ

Thống kê cho thấy; bệnh nhân mắc bệnh có nguy cơ bị đột quỵ cao gấp 5 lần người bình thường. Đây là nguyên nhân trực tiếp gây ra khoảng 120,000 trường hợp nhồi máu não mỗi năm; chiếm 25% tổng số trường hợp đột quỵ não.

Đột quỵ não ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của các bệnh nhân; chính vì vậy việc phòng ngừa tai biến đột quỵ là mục tiêu nền tảng trong điều trị bệnh. Mặc dù có nhiều phương pháp để phòng ngừa đột quỵ; tuy nhiên việc sử dụng thuốc chống đông luôn là phương pháp đầu tay trong điều trị rung nhĩ. Các thuốc chống đông thực sự hiệu quả trong việc làm giảm nguy cơ nhồi máu não.

Ngoài nguy cơ gây đột quỵ, đây còn là nguyên nhân dẫn đến các tình trạng như suy tim, mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt, khó thở.

Rung nhĩ là bệnh lý tiến triển; điều này đồng nghĩa với việc nếu không điều trị bệnh sẽ ngày càng nặng lên. Khi đó các triệu chứng sẽ xảy ra thường xuyên và kéo dài hơn. Rung nhĩ bền bỉ sẽ gây ra rất nhiều khó khăn cho việc điều trị vì vậy hãy đi khám bệnh ngay khi có các triệu chứng. Kể cả những người có lối sống lành mạnh và không mắc các bệnh lý nào khác cũng có thể bị rung nhĩ.

Các yếu tố nguy cơ chính của rung nhĩ bao gồm:

• Tuổi trên 60

• Tăng huyết áp

• Bệnh động mạch vành

• Suy tim

• Bệnh lý van tim

• Tiền sử phẫu thuật tim mở

• Ngừng thở khi ngủ

• Bệnh lý tuyến giáp

• Đái tháo đường

• Bệnh phổi mạn tính

• Lạm dụng rượu hoặc sử dụng chất kích thích

• Tình trạng nhiễm trùng hoặc bệnh lý nội ngoại khoa nặng

Triệu chứng điển hình:

Rất nhiều bệnh nhân hoàn toàn không có triệu chứng; mặt khác nhiều bệnh nhân có triệu chứng ngay từ khi mới mắc. Các triệu chứng sẽ khác nhau tùy từng bệnh nhân; phụ thuộc vào tuổi, nguyên nhân gây bệnh (do bệnh tim mạch hay bệnh cơ quan khác) và ảnh hưởng của bệnh đến sự co bóp của tim.

Các triệu chứng bao gồm:

• Cảm giác mệt mỏi hoặc thiếu năng lượng (thường gặp nhất)

• Nhịp tim nhanh hơn bình thường và không đều (lúc nhanh lúc chậm)

• Thở nông

• Hồi hộp trống ngực (cảm giác tim đập nhanh, thình thịch, rộn ràng)

• Khó khăn trong hoạt động sinh hoạt hàng ngày hoặc giảm khả năng đáp ứng với vận động thể lực

• Đau hoặc cảm giác tức nặng ngực

• Tiểu tiện nhiều lần

Có thể phát hiện rung nhĩ bằng cách nào?

Có thể chẩn đoán xác định rung nhĩ bằng điện tâm đồ – đây là một xét nghiệm thường quy.

Ngoài ra bệnh có thể được phát hiện nhờ các thiết bị di động gắn trên người bệnh nhân để theo dõi nhịp tim trong khoảng thời gian dài như Holter điện tâm đồ. Bệnh nhân được đeo Holter điện tâm đồ theo dõi nhịp tim trong khoảng từ 1-7 ngày có khi vài tuần. Các thiết bị này giúp ghi lại nhịp tim cả ngày lẫn đêm qua đó cung cấp những thông tin chính xác về biến thiên nhịp tim kể cả khi hoạt động lẫn khi nghỉ ngơi. Điều trị rung nhĩ cần được bắt đầu ngay khi xác định được chẩn đoán.

Sơ đồ điện tâm đồ của người bình thường và người bệnh rung nhĩ.

Để điều trị rung nhĩ có hiệu quả chống được đột quỵ với ba mục tiêu chính là kiểm soat tần số thất, chuyển rung nhĩ về nhịp xoang và dùng thuốc chống đông phòng ngừa huyết khối. Có nhiều phương pháp khác nhau để điều trị rung nhĩ. Một số bệnh nhân có thể được sốc điện chuyển nhịp về nhịp xoang. Triệt đốt rung nhĩ qua đường ống thông là phương pháp mới được chi định cho các bệnh nhân không đáp ứng với các phương pháp điều trị khác hoặc không muốn điều trị nội khoa. Đây là phương pháp dùng năng lượng tạo ra những vết cắt nhỏ lên bề mặt nội mạc nhĩ trái để cô lập các đường xung động bất thường của rung nhĩ gây ra.

Rung nhĩ còn có thể dẫn đến đôt quỵ !

Rung nhĩ có thể dẫn đến đột quỵ do hình thành các cục máu đông, chính vì vậy, các bác sỹ thường phải sử dụng thuốc chống đông máu cho bệnh nhân. Sự lựa chọn cũng như tính toán lợi ích, nguy cơ của việc sử dụng các thuốc chống đông cần được tính toán kĩ lưỡng dựa trên tuổi, bệnh lý kèm theo (như suy tim, tăng huyết áp, tiểu đường). Chống đông trong rung nhĩ và phòng ngừa đột quỵ.

Tóm lại để phòng ngừa bệnh tim mạch cần có một phương pháp toàn diện, thực hiện lối sống khoa học, cùng với đó là chế độ ăn uống lành mạnh, thường xuyên tập luyện thể dục đều đặn 30 phút mỗi ngày.